|
Quá trình cải cách được bắt đầu vào năm 1996 đã đánh dấu một bước ngoặt trong lịch sử phát triển kinh tế của Việt Nam. Từ cuối những năm 1980, nền kinh tế Việt Nam đã bắt đầu chuyển đổi sang nền kinh tế theo hướng thị trường nhằm mục đích công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế. Cùng với quá trình cải cách, Việt Nam đã chủ động thực hiện “chính sách mở cửa” và tăng tốc quá trình hội nhập quốc tế về kinh tế, đặc biệt thông qua tự do hóa hoạt động thương mại và đầu tư. Việc gia nhập WTO là một bước ngoặt trong quá trình phát triển và hội nhập này. Việt Nam đã nhận thấy hội nhập quốc tế và việc gia nhập WTO tạo ra những cơ hội phát triển cho các ngành khác nhau, đồng thời cũng đem lại những thách thức và một số ngành có thể phải chịu những tác động tiêu cực.
|
Sau 20 năm cải cách và 10 năm hội nhập quốc tế và khu vực, chính sách và hệ thống pháp luật về thương mại ở Việt Nam tiếp tục thay đổi đáng kể sau khi gia nhập WTO. Quyền kinh doanh tiếp tục được mở rộng hơn đối với cả các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Thuế nhập khẩu được cam kết ở toàn bộ 10,600 dòng thuế trong cả hai lĩnh vực nông nghiệp và công nghiệp. Ngay sau khi gia nhập WTO, Việt Nam đã xóa bỏ trợ cấp trực tiếp đối với xuất khẩu hàng nông sản và một số loại trợ cấp trong các ngành công nghiệp. Chính sách đối với FDI, khu vực tư nhân và xúc tiến doanh nghiệp nhỏ và vừa đã thay đổi và tạo ra môi truờng kinh doanh cạnh tranh và thông thoáng hơn so với trước.
Nhờ cải cách trong nước và quá trình hội nhập, các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp ở Việt Nam đã đạt được những phát triển tích cực trong những năm vừa qua, đặc biệt là trong năm 2006-2007, tạo nên kỷ lục về tăng trưởng GDP, xuất nhập khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài trong năm đầu Việt Nam trở thành thành viên của WTO.
Cơ cấu kinh tế của Việt Nam đã chuyển dịch dần từ nông nghiệp sang dịch vụ và công nghiệp. Tỷ trọng của nông nghiệp trong GDP đã giảm trong khi tỷ trọng của dịch vụ và công nghiệp tăng lên. Số lượng các doanh nghiệp công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp tăng liên tục, đặc biệt là trong năm 2006 và 2007. Công ăn việc làm trong lĩnh vực công nghiệp chế tạo và dịch vụ tăng cao. Giá trị vốn trong lĩnh vực công nghiệp chế tạo tăng mạnh, đặc biệt là trong các ngành có định hướng xuất khẩu. Cơ cấu sở hữu đã thay đổi với sự giảm sút vai trò của các doanh nghiệp nhà nước trong khi khu vực tư nhân và đầu tư nước ngoài tăng nhanh trong công nghiệp và dịch vụ. Trong nông nghiệp, các trang trại tư nhân và hộ gia đình đã vượt các nông trường quốc doanh và hợp tác xã. Tỷ trọng đầu tư của nhà nước và doanh nghiệp nhà nước trong tổng đầu tư và trong sản lượng công nghiệp và nông nghiệp giảm sút, trong khi đó tỷ trọng của khu vực tư nhân và đầu tư nước ngoài liên tục tăng. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng vai trò quan trọng hơn và chiếm hơn 90% tổng số các doanh nghiệp công nghiệp và nông nghiệp ở Việt Nam.
Xuất khẩu một số sản phẩm công nghiệp và nông nghiệp phản ánh rõ kết quả của mở cửa và cải cách trong nền kinh tế Việt Nam. Tổng xuất khẩu hàng hóa đã tăng liên tục cả về tốc độ và quy mô, đưa xuất khẩu thành một động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế. Năm 2007 tổng giá trị xuất khẩu đạt mức tương đương 68,79% GDP, trong đó sản phẩm công nghiệp chế tạo chiếm hơn một nửa và sản phẩm nông nghiệp chiếm hơn một phần ba. Việt Nam được xếp hạng khá cao trong số những nước xuất khẩu hàng dệt may và một số sản phẩm nông nghiệp.
Kết quả hoạt động xuất khẩu trong năm 2007 cho thấy trong năm đầu tiên gia nhập WTO, Việt Nam đã nắm được các cơ hội để tăng quy mô xuất khẩu cũng như đa dạng hóa mặt hàng và thị trường xuất khẩu. Tuy nhiên, kết quả xuất khẩu vẫn thể hiện một số yếu kém. Tăng trưởng xuất khẩu còn chứa đựng những yếu tố không bền vững và dễ bị tổn thương bởi những cú sốc từ bên ngoài, và cơ cấu hàng xuất khẩu vẫn chậm chuyển dịch theo hướng giảm xuất khẩu hàng có hàm lượng nguyên liệu cao hoặc lao động rẻ và tăng hàm lượng hàng hóa có hàm lượng chế biến và công nghệ cao.
Hiệu quả của công nghiệp và nông nghiệp vẫn còn là vấn đề cần quan tâm đối với nền kinh tế Việt Nam. Trong những năm qua, sự cách biệt giữa mức tăng trưởng về sản lượng và giá trị gia tăng trong công nghiệp cũng như nông nghiệp đã bị nới rộng. Nhìn chung những ngành thay thế nhập khẩu với mức bảo hộ tương đối cao đã thu được lợi nhuận cao hơn, trong khi những ngành tập trung vào xuất khẩu và ngành có hàm lượng lao động cao với mức bảo hộ thấp chỉ thu được lợi nhuận thấp hoặc thậm chí thua lỗ.
Về khả năng cạnh tranh của ngành công nghiệp và nông nghiệp Việt Nam, chỉ số lợi thế so sánh RCA dựa trên xuất khẩu cho thấy Việt Nam có lợi thế tranh trong các ngành công nghiệp chế tạo như giày dép, may mặc, đồ gỗ, hàng dùng cho du lịch và chế biến nông sản, cũng như trong một số hàng nông sản như hạt tiêu, hạt điều, gạo, cao su, cà phê, thủy sản.
Mặt khác, chỉ số bảo hộ hiệu quả ERP đối với toàn bộ nền kinh tế cũng như đối với lĩnh vực công nghiệp chế tạo đã giảm đáng kể. Theo đánh giá của quốc tế, khả năng cạnh tranh của nền kinh tế của Việt Nam là khá thấp, với chỉ số năng lực cạnh tranh tổng hợp GCI và năng lực cạnh tranh doanh nghiệp BCI được xếp hạng ở mức 68/131 và 76/131 trong năm 2007. Chỉ số chi tiết GCI trong năm 2007 cho thấy nền kinh tế Việt Nam có những điểm tích cực trong thay đổi thể chế và sự ổn định kinh tế vĩ mô, còn các điểm tiêu cực được chỉ ra trong cơ sở hạ tầng, công nghệ và giáo dục.
Tác động của những thay đổi về chính sách
Có nhiều mối lo ngại rằng việc Việt Nam thực hiện các cam kết của WTO có thế tác động mạnh và tiêu cực nhiều hơn là tích cực tới sự phát triển kinh tế nói chung và tới các ngành công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp nói riêng. Tuy nhiên thực tế vị thế thành viên WTO đã buộc Việt Nam đẩy nhanh tiến trình cải cách về thể chế và chính sách của mình và buộc doanh nghiệp Việt Nam phải thích ứng với hệ thống thương mại quốc tế, do đó việc gia nhập WTO thực sự đã đem lại những tác động tích cực tới nền kinh tế nói chung cũng như những cơ hội cho từng lĩnh vực kinh tế.
Tác động tích cực và các cơ hội
Tác động lớn nhất đối với nền kinh tế trong năm 2007 là sự chuyển biến của các quy định pháp luật và chính sách kinh tế theo hướng minh bạch hơn, ít phân biệt đối xử hơn giữa các thành phần kinh tế và hướng tới môi trường kinh doanh thuận lợi hơn. Điều này đã khuyến khích các khu vực công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, thương mại trong nước và kinh doanh xuất nhập khẩu, đầu tư, cạnh tranh và hợp tác kinh doanh phát triển, đóng góp vào sự tăng trưởng GDP ở mức 8,48% trong năm 2007.
Trở thành thành viên của WTO, Việt Nam đã trở nên một địa điểm hấp dẫn cho các nhà đầu tư. Trong năm 2007, các cam kết FDI và giải ngân đạt mức tương ứng là 23 tỷ đô la Mỹ và 8 tỷ đô la Mỹ, con số cao nhất kể từ năm 1987. Hơn 60% trong tổng cam kết FDI và giải ngân trong năm 2007 là thuộc các ngành công nghiệp, và đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ cao đã bắt đầu bùng nổ.
Việc gia nhập WTO đã tạo ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp tiếp cận các nguồn công nghệ, dịch vụ và nguồn cung cấp nguyên liệu cho sản xuất, cũng như tiếp cận dễ dàng hơn các thị trường nước ngoài. Xuất khẩu sản phẩm công nghiệp và nông nghiệp tăng, nhập khẩu thiết bị, nguyên liệu và công nghệ được mở rộng, quan hệ thương mại được mở rộng và đa dạng hóa, đặc biệt với những đối tác chiến lược của Việt Nam.
Tác động tiêu cực và những thách thức
Việc gia nhập WTO đã gây ra áp lực lớn hơn đối với Việt Nam trong việc duy trì năng lực cạnh tranh. Trong năm 2007, thực sự có sự cạnh tranh quyết liệt trên thị trừong thế giới cũng như thị trường trong nước, do đó những ngành được bảo hộ ở mức cao, các doanh nghiệp nhà nước, một số doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng như một số lĩnh vực trong nông nghiệp đã gặp nhiều khó khăn hơn trong việc duy trì tăng trưởng.
Cam kết giảm thuế trong WTO rõ ràng đã tạo ra cạnh tranh nhiều hơn đối với các ngành kinh tế trong nước, đặc biệt những ngành được bảo hộ cao, các doanh nghiệp nhà nước và một bộ phận trong nông nghiệp. Bảo hộ đã được giảm đáng kể, sự độc quyền hoặc quyền chi phối thị trường (nếu có) không thể tiếp tục được duy trì, và sự can thiệp “ưu ái” truyền thống của Chính phủ đã bị hạn chế nhiều. Lợi nhuận và thị phần của những khu vực doanh nghiệp này đã bị thu hẹp.
Xuất khẩu hàng hóa chế tạo và nông sản trong năm 2007 thể hiện một số điểm yếu. Xuất khẩu chứa đựng một số yếu tố không bền vững và dễ bị tổn thương trước những cú sốc từ bên ngoài. Rủi ro có thể tăng trong bối cảnh giá quốc tế của nhiều mặt hàng thường xuyên biến động, có nhiều hàng rào kỹ thuật hơn và sự thay đổi về cơ chế giám sát hoặc chính sách của các thị trường chính đối với xuất khẩu của Việt Nam. Những lợi thế cạnh tranh của một số mặt hàng có thể bị giảm sút, do đó những ngành này có thể gặp phải những khó khăn trong xuất khẩu và cả trong sản xuất.
Khi gia nhập WTO, Việt Nam bị coi là nền kinh tế “phi thị trường” trong một thời hạn tối đa là 12 năm hoặc không muộn hơn thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 2018. Chừng nào Việt Nam còn bị coi là nền kinh tế “phi thị trường”, thì Việt Nam vẫn phải đối mặt với những điều kiện không thuận lợi trong các vụ kiện chống bán phá giá và chống trợ cấp. Nhiều sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang Hoa Kỳ và Châu Âu (như thủy sản, dệt may và giầy dép..) dễ trở thành đối tượng của những vụ kiện chống bán phá giá và do đó bị buộc vào thế bất lợi.
Khuyến nghị hành động
Để duy trì tăng trưởng trong bối cảnh hội nhập toàn diện vào nền kinh tế thế giới, Việt Nam cần phải tăng tốc cải cách, nâng cao chất lượng tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, của các ngành cũng như các doanh nghiệp.
Ở cấp vĩ mô
Việt Nam cần tiếp tục cải thiện hệ thống luật pháp và chính sách phù hợp với những quy tắc của WTO và các cam kết của Việt Nam. Sự hình thành và thực thi các luật pháp và chính sách kinh tế minh bạch, nhất quán và có thể tiên liệu được cùng với một hệ thống quản trị công hữu hiệu là quan trọng để Việt Nam trở thành một thị trường cạnh tranh và hấp dẫn và để đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước.
Việt Nam cần rà soát và củng cố các kế hoạch và chiến lược phát triển kinh tế thành một quy hoạch quốc gia thống nhất phù hợp với lộ trình thực hiện các cam kết WTO. Việt Nam cần phải xem xét tới chỉ số ERP và sự phát triển của các ngành công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp mà Việt Nam có lợi thế cạnh tranh. Những chiến lược và chính sách cho ngành hoặc khu vực, phù hợp tốt hơn với các quy tắc của WTO, phải toàn diện và bao trùm toàn bộ nền kinh tế chứ không chỉ tập trung vào việc tạo khuyến khích đối với một số ngành. Sự ưu tiên trong chính sách của Chính phủ phải hướng vào việc cải thiện kết cấu hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực, dịch vụ công và tạo lập môi trường thân thiện cho hoạt động đầu tư, cạnh tranh bình đẳng, khuyến khích sáng tạo và chuyển giao công nghệ.
Để phát triển nông nghiệp, cần thiết phải có chính sách toàn diện và năng động thể hiện sự kết hợp giữa định hướng thị trường với chính sách phát triển, giữa lợi ích thương mại và chính sách phúc lợi xã hội. Các vòng đàm phán WTO sắp tới sẽ là cơ hội tốt để Việt Nam đàm phán với các đối tác về những vấn đề quan trọng liên quan tới việc mở cửa thị trường nông sản.
Cải cách hành chính không chỉ theo hướng tạo cơ chế một cửa hoặc ngăn chặn tiêu cực, mà phải tập trung xây dựng một nền quản trị công chuyên nghiệp và hữu hiệu với trách nhiệm cao, minh bạch và đủ năng lực giải quyết những vấn đề kinh tế vĩ môi trong một môi trường thay đổi nhanh, và nhằm vào việc tạo thuận lợi cho doanh nghiệp giảm thiểu chi phí giao dịch. Điều này có quan hệ trực tiếp với việc tiếp tục những thay đổi về chức năng của chính phủ và tạo cơ chế khuyến khích hợp lý đối với công chức.
Môi trường kinh doanh cần được tiếp tục cải thiện để hỗ trợ sự phát triển và khả năng cạnh tranh của các lĩnh vực kinh tế và doanh nghiệp, đồng thời cũng giúp cho việc đạt được sự công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường. Sự công nhận này có thể làm thu hẹp phạm vi của những vụ kiện chống bán phá giá đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam cũng như giảm thua thiệt cho doanh nghiệp Việt Nam khi thuế chống bán phá giá được thực hiện.
Về chiến lược phát triển ngành để đẩy mạnh xuất khẩu của Việt Nam ra thị trường thế giới, Việt Nam cần tiếp tục duy trì lợi thế cạnh tranh của mình trong những ngành xuất khẩu chủ lực hiện nay như giầy dép, dệt may, chế biến nông sản và hàng nông sản, ít nhất là trong trung hạn. Tuy nhiên, cần nâng cao hàm lượng tri thức để đem lại giá trị gia tăng cao hơn cho hàng xuất khẩu và cải thiện vị trí của Việt Nam trong chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu. Điều này đòi hỏi đầu tư nhiều hơn vào nguồn nhân lực, vốn và công nghệ. Nếu không Việt Nam sẽ vẫn tụt lại trong cạnh tranh toàn cầu và sẽ gặp khó khăn để cải thiện vị thế về kinh tế trên thế giới. Do đó, Chính phủ cần mở rộng những hỗ trợ và khuyến khích phù hợp với thông lệ quốc tế và quy tắc của WTO, tập trung vào những lĩnh vực cụ thể như đào tạo, xúc tiến thương mại, cung cấp thông tin về thị trường và sản phẩm, nghiên cứu và phát triển sản phẩm, chuyển giao công nghệ...
Về vấn đề hỗ trợ trong xúc tiến thương mại, việc thực hiện một cách hữu hiệu đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ giữa Chính phủ và các hiệp hội doanh nghiệp trong cung cấp thông tin và xúc tiến thương mại ở cấp vĩ mô. Trên thực tế, phần lớn các doanh nghiệp xuất khẩu vẫn còn thiếu kinh nghiệm và năng lực về tài chính để thu thập thông tin và thực hiện xúc tiến xuất khẩu ở quy mô lớn, đặc biệt tại các thị trường nước ngoài. Những hỗ trợ như vậy của Chính phủ và các hiệp hội sẽ giúp các doanh nghiệp giảm chi phí và bớt rủi ro trong các hoạt động xuất khẩu.
Các hiệp hội doanh nghiệp cần hỗ trợ các doanh nghiệp thông qua việc cung cấp các dịch vụ tư vấn, thông tin, nghiên cứu thị trường, xúc tiến xuất khẩu và các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh khác; củng cố vai trò là người đại diện cho quyền lợi của doanh nghiệp trong tất cả các vấn đề liên quan đến môi trường kinh doanh và tạo thuận lợi cho xuất khẩu ở trong và ngoài nước; tham gia tích cực hơn trong các hoạt động khuyến nghị về chính sách, xây dựng và thực hiện chính sách, và trong việc giải quyết các tranh chấp thương mại có thể gây cản trở cho hoạt động xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường thế giới.
Ở cấp vi mô
Doanh nghiệp cần chủ động trong việc tìm hiểu các quy tắc của WTO; xem xét các cam kết theo WTO liên quan đến khu vực doanh nghiệp để có thể hiểu rõ hơn về những lợi ích và thách thức do những cam kết này đem lại. Đây là cơ sở cho các doanh nghiệp xác định lại chiến lược kinh doanh và cạnh tranh của mình.
Doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược dài hạn và cải thiện năng lực cạnh tranh của minh. Chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp cần được kết hợp giữa việc tiếp tục hoạt động xúc tiến xuất khẩu các sản phẩm truyền thống với việc đa dạng hóa sản phẩm và cải thiện toàn diện năng lực cạnh tranh. Doanh nghiệp cần chuyển dịch năng lực cạnh tranh dựa trên giá rẻ của mình sang việc tập trung vào nâng cao hàm lượng giá trị gia tăng trong chuỗi giá trị. Doanh nghiệp cần hợp tác để xây dựng những cụm và mạng lưới hiệu quả hơn để nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh.
Để tránh việc bị áp đặt biện pháp trừng phạt thương mại, các doanh nghiệp xuất khẩu cần chuẩn bị đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá, và điều đầu tiên mà họ phải thực hiện là nghiên cứu các luật mà những nhà nhập khẩu lớn sẽ áp dụng. Các doanh nghiệp trong nước cần đa dạng hóa sản phẩm và thị trường xuất khẩu cũng như nguồn nguyên liệu đầu vào. Doanh nghiệp cũng cần phải cải tiến chuẩn mực kế toán để phù hợp với các quy tắc quốc tế chung, làm cơ sở cho việc điều tra trong trường hợp bị kiện chống bán phá giá. Các hiệp hội doanh nghiệp cần phối hợp hành vi của các công ty và chủ động kiểm soát tình hình xuất khẩu từ phía Việt Nam./.
|