|
Rà soát chính sách thương mại là một nhiệm vụ được quy định trong các hiệp định của WTO, theo đó những chính sách thương mại và liên quan đến thương mại của các nước thành viên đều được rà soát và đánh giá theo định kỳ. Tuỳ theo tỷ trọng thương mại của mỗi nước trong tổng thương mại toàn cầu mà việc rà soát và đánh giá sẽ được tiến hành theo định kỳ khác nhau.
|
Ví dụ, 4 nước chiếm tỷ trọng thương mại lớn nhất thế giới là Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản và Canada được rà soát chính sách thương mại 2 năm một lần. 16 nước chiếm tỷ trọng thương mại ít hơn được rà soát chính sách thương mại 4 năm một lần. Những nước còn lại được tiến hành rà soát 6 năm một lần. Những tiến bộ đáng kể của các nước có thể tác động đến hệ thống thương mại toàn cầu cũng được theo dõi. Bản báo cáo về việc rà soát chính sách thương mại do WTO tiến hành, cùng với tài liệu thông báo chính sách của Chính phủ nước thành viên sẽ là những tài liệu cơ bản cung cấp cho Cơ quan rà soát chính sách thương mại của WTO để các nước thành viên thảo luận.
Cuối tháng 3 vừa qua, Ban Thư ký WTO đã công bố tài liệu về Rà soát chính sách thương mại của Hoa Kỳ trong năm 2005. Đây là một tài liệu được WTO tiến hành độc lập, và sẽ được cung cấp cho Cơ quan Rà soát Chính sách thương mại của WTO cùng với tài liệu báo cáo về chính sách thương mại do chính phủ Hoa Kỳ tiến hành thực hiện.
Theo bản báo cáo của Ban Thư ký WTO, nền kinh tế Hoa Kỳ đã tăng trưởng vững chắc kể từ lần rà soát chính sách thương mại trước đó vào đầu năm 2004. Sự tăng trưởng này là nhờ vào việc công khai và minh bạch cơ chế thương mại của Hoa Kỳ với nỗ lực không ngừng trong việc thay đổi và cơ cấu hiệu quả nền kinh tế. Trong suốt quá trình được rà soát, Hoa Kỳ đã tiến hành những thay đổi to lớn về cơ chế thương mại, bao gồm tự do hoá thương mại trên cơ sở MFN và các biện pháp ưu đãi. Các đối tác thương mại tiếp tục được hưởng lợi do Hoa Kỳ vẫn là nhà nhập khẩu lớn nhất thế giới và là động lực chính cho sự tăng trưởng của toàn cầu. Tuy nhiên, các hàng rào trong tiếp cận thị trường và các biện pháp bóp méo khác như trợ cấp vẫn còn được sử dụng ở một số ít các lĩnh vực quan trọng. Việc xoá bỏ những biện pháp bóp méo này sẽ đem lại lợi ích cho chính người tiêu dùng và doanh nghiệp của Hoa Kỳ, đồng thời góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu.
Chính sách thương mại của Hoa Kỳ được Ban Thư ký WTO rà soát trên một số lĩnh vực sau: những phát triển về kinh tế, những tiến bộ của chính sách thương mại, tiếp cận thị trường hàng hoá, các biện pháp xuất khẩu, các biện pháp khác ảnh hưởng đến thương mại và các điều kiện về tiếp cận thị trường dịch vụ.
(1) Những phát triển về kinh tế
Kể từ lần rà soát chính sách thương mại vào đầu năm 2004, các chính sách tài chính và tiền tệ thích ứng đã đóng góp vào sự tăng trưởng vững chắc của nền kinh tế Hoa Kỳ. Nhập khẩu đã giúp kìm giá cả của nước này xuống trong bối cảnh tiêu dùng tư nhân tăng mạnh, đồng thời các dòng vốn đầu tư nước ngoài lớn đã phần nào bù đắp cho mức thâm hụt lớn của tài khoản vãng lai. Tuy nhiên, trong tình trạng thâm hụt tài khoản vãng lai lớn, mức tiết kiệm thấp, và dấu hiệu phát triển quá nóng của thị trường nhà đất, các cơ quan Chính phủ gần đây đã áp dụng thêm nhiều biện pháp để cắt giảm tiêu dùng và thắt chặt chính sách tiền tệ.
Hoa Kỳ là thị trường nhập khẩu lớn nhất thế giới và nền kinh tế của nước này liên tục đóng góp cho sự phát triển toàn cầu nhờ duy trì chính sách mở rộng cửa thị trường. Đổi lại, sự mở cửa này cũng là một trong những nhân tố thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế Hoa Kỳ vì nó cho phép các nhà sản xuất và người tiêu dùng của Hoa Kỳ được tiếp cận với hàng hoá, dịch vụ và nguồn vốn từ nước ngoài với những điều kiện ưu đãi nhất. Chính vì vậy, việc duy trì sự mở cửa này bằng cách ngăn chặn trước tư tưởng bảo hộ trong nước là rất quan trọng. Để đạt được điều này cần phải có những nỗ lực của Chính phủ Hoa Kỳ bao gồm qua việc giảm sự chú trọng vào khu vực công, cũng như sự nỗ lực của các nước còn lại trên thế giới qua việc gia tăng mức tiêu dùng.
(2) Những tiến bộ của chính sách thương mại
Hoa Kỳ tiếp tục theo đuổi chính sách thúc đẩy các thị trường mở. Chính vì vậy, Hoa Kỳ luôn đặt hệ thống thương mại đa phương vào trung tâm của các quan hệ thương mại quốc tế của mình. Các vòng đàm phán thương mại đa phương, đặc biệt là việc kết thúc thành công vòng đàm phán Doha vào cuối năm 2006 là ưu tiên đã được xác định rõ của chính phủ Hoa Kỳ. Hoa Kỳ đã đưa ra nhiều đề xuất tại các uỷ bản và những cơ quan khác trong WTO, đồng thời tham gia tích cực vào hệ thống giải quyết tranh chấp. Về mặt này, Hoa Kỳ đã có những tiến bộ trong việc thực thi một số quyết định của WTO yêu cầu Hoa Kỳ thay đổi cơ chế luật pháp của nước này. Tuy nhiên, vẫn còn một số quyết định vẫn chưa được Hoa Kỳ thực hiện đầy đủ.
Chính phủ Hoa Kỳ coi quyền “đàm phán nhanh” là một công cụ quan trọng để đạt được những mục tiêu thương mại của mình. Quyền đàm phán nhanh cho phép Tổng thống đàm phán và ký kết các hiệp định thương mại với các nước khác. Quốc hội không được phép sửa đổi mà chỉ được quyền thông qua hoặc không thông qua những hiệp định đó trong vòng 90 ngày kể từ ngày hiệp định được ký kết . Năm 2005, chính quyền Tổng thống Bush đã yêu cầu Quốc hội Hoa Kỳ gia hạn quyền này và đã được chấp thuận. Theo đó, quyền đàm phán nhanh sẽ được áp dụng cho những hiệp định thương mại có hiệu lực trước ngày 1/6/2007 thay vì 1/6/2005 như trước đây.
Bên cạnh đó, Hoa Kỳ cũng theo đuổi chiến lược tự do hoá thương mại thông qua các cuộc đàm phán ở cấp độ đa phương, khu vực và song phương. Theo chiến lược này, Hoa Kỳ đã gia tăng số lượng nước ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTAs) từ 3 nước khi Tổng thống Bush lên nắm quyền vào đầu năm 2001 lên 15 nước tính đến cuối năm 2005. Trong số những FTAs này, có 6 FTAs đã được thực hiện bao gồm với Israel, NAFTA, Jordan, Chile, Singapore và Australia. Tính đến tháng 1/2006, hiệp định thương mại với 12 nước còn lại vẫn đang được đàm phán. Hoa Kỳ luôn coi các FTAs là một bước đi có thể góp phần thúc đẩy tự do hoá đa phương.
Hoa Kỳ dành những ưu đãi đơn phương cho các nước đang phát triển theo một số các chương trình và những ưu đãi này có thể kèm theo các điều kiện tuỳ thuộc vào các mục tiêu chính sách khác nhau của Hoa Kỳ.
(3) Tiếp cận thị trường hàng hoá
Kể từ lần rà soát trước, Hoa Kỳ đã có thêm những bước tiến để đưa những vấn đề an ninh vào các quy định về nhập khẩu, đáng chú ý là thông qua việc đưa ra các quy định có liên quan đến Luật Thương mại năm 2002 và Luật về Khủng bố sinh học. Những quy định mới bao gồm các yêu cầu cung cấp thông tin về hàng hoá trong lãnh thổ Hoa Kỳ trước khi được vận chuyển đi; thông báo cho Cục quản lý Thực phẩm và Thuốc về tất cả những thực phẩm được gửi đi trong lãnh thổ Hoa Kỳ; và đăng ký việc sản xuất thực phẩm cùng với việc sử dụng các thiết bị sản xuất để xuất khẩu sang Hoa Kỳ. Việc đánh giá về tác động kinh tế của những quy định mới này sẽ có giá trị đối với việc xác định mức chi phí và lợi nhuận thực tế.
Hoa Kỳ dành sự đối xử MFN cho tất cả các nước thành viên WTO ngoại trừ Cuba. Tất cả các dòng thuế đều được ràng buộc ngoại trừ 2 dòng. Các loại thuế quan MFN đểu ở các mức ràng buộc, cho phép khả năng có thể dự đoán trước về cơ chế thuế quan của Hoa Kỳ. Năm 2004, mức thuế MFN trung bình được áp dụng là 4,9%, thấp hơn so với năm 2002; mức thuế trung bình trong cả 2 năm 2004 và 2005 là 4,2%. Gần 38% trong tổng số các mặt hàng chịu thuế đã được đưa vào diện miễn thuế của Hoa Kỳ trong năm 2004, so với 31% trong năm 2002. Mức thuế MFN trung bình được áp dụng cho nông sản là 9,7%, so với 4,0% đối với các sản phẩm khác. Thuốc lá, giầy dép và một số sản phẩm khác được hưởng mức bảo hộ thuế quan dao động trong khoảng từ 50% đến 350%. Tỷ lệ các mức thuế không đánh theo trị giá giảm xuống còn 10,6% trong năm 2004. Hạn ngạch thuế quan chiếm khoảng 2% trong tổng số các dòng thuế. Các mức thuế cao đánh vào hàng hoá vượt quá hạn ngạch là một trong những hình thức bảo hộ nhập khẩu chính đối với một số nông sản nhất định.
Các ưu đãi thuế quan bổ sung đã có hiệu lực trong thời kỳ rà soát là kết quả của các FTAs với Australia, Chile và Singapore. Hoa Kỳ không loại trừ bất kỳ một sản phẩm nào ra khỏi mục cắt giảm thuế quan trong FTAs với Chile và Singapore, trong khi đó, FTAs giữa Hoa Kỳ với Australia đã loại một số lượng nhỏ các sản phẩm khỏi diện cắt giảm thuế quan như các sản phẩm sữa và đường. Những yêu cầu khác nhau về xuất xứ hàng hoá trong những FTAs này cũng như những FTAs khác của Hoa Kỳ đã góp phần tăng thêm tính phức tạp trong cơ chế thương mại của nước này.
Hầu hết các biện pháp hạn chế phi thuế quan được duy trì với mục đích phi thương mại, trong đó có việc cấm nhập khẩu các sản phẩm từ các động vật có vú trên biển, tôm và cá ngừ từ các nước được cho là không phù hợp với các quy định về môi trường của Hoa Kỳ.
Thuế chống phá giá tiếp tục là một biện pháp quan trọng cho dù Hoa Kỳ đang giảm dần việc áp dụng biện pháp này đối một số hàng nhập khẩu nhất định vào thị trường nước mình. Và chính điều này đã tạo ra một yếu tố không chắc chắn đối với các nhà xuất khẩu nước ngoài. Cho đến tháng 6/2005, đã có 274 biện pháp chống phá giá có hiệu lực, tác động chủ yếu đến các mặt hàng sắt thép, hoá chất, dược phẩm, các sản phẩm nông nghiệp và lâm nghiệp. Tuy nhiên, số lượng các cuộc điều tra chống phá giá đã giảm xuống trong năm 2004 và nửa đầu năm 2005. Điều này đã làm giảm bớt những mối e ngại rằng các cuộc điều tra chống phá giá có thể ảnh hưởng đến những nhà xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ, vì đa số các cuộc điều tra đều kéo theo việc áp dụng các mức thuế sơ bộ. Bên cạnh đó, các nhà xuất khẩu Hoa Kỳ cũng bị áp dụng khoảng 55 biện pháp chống phá giá tại 13 thị trường nước ngoài.
Một số quy định và biện pháp chống phá giá và đối kháng của Hoa Kỳ bị coi là không phù hợp với WTO và điều này đã dẫn đến những thay đổi trong chính sách thương mại hiện tại của Hoa Kỳ. Một số vụ kiện được xét xử đã dẫn tới việc bãi bỏ Đạo luật về chống phá giá năm 1916 và Đạo luật Đền bù phá giá và trợ cấp tiếp theo năm 2000 (còn được biết đến với tên gọi là Tu chính án Byrd).
Hoa Kỳ đã thông báo với WTO về việc chấm dứt thực hiện các biện pháp tự vệ đối với 10 sản phẩm thép, đây là những biện pháp mà Cơ quan chống phá giá của WTO cho rằng không phù hợp với các quy định của WTO. Việc chấm dứt này diễn ra vào tháng 12/2003, muộn hơn một năm so với thời hạn ban đầu. Kể từ đó cho tới nay, Hoa Kỳ không áp dụng thêm bất kỳ một biện pháp tự vệ chung nào nữa. Tuy nhiên, theo cơ chế tự vệ đối với hàng dệt may được quy định trong Báo cáo gia nhập WTO của Trung Quốc, Hoa Kỳ đã áp dụng các biện pháp tự vệ chuyển tiếp đối với một số mặt hàng dệt may từ Trung Quốc trong năm 2005. Tháng 11/2005, Hoa Kỳ và Trung Quốc đã đạt được một thoả thuận sơ bộ về việc áp dụng hạn ngạch tăng lên hàng năm đối với các loại mặt hàng dệt may cho giai đoạn 2006-2008.
Những quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật và các biện pháp vệ sinh kiểm dịch động thực vật đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm an toàn và chất lượng hàng hoá. Một số nước thành viên WTO đã bày tỏ sự e ngại về một số quy định kỹ thuật và các biện pháp vệ sinh kiểm dịch động thực vật cụ thể của Hoa Kỳ, tuy nhiên, chưa có vụ việc nào được đưa ra cơ quan giải quyết tranh chấp chính thức.
4) Các biện pháp xuất khẩu
Mục tiêu trọng tâm trong chính sách thương mại của Hoa Kỳ là mở rộng thị trường cho các nhà xuất khẩu Hoa Kỳ. Do đó các đạo luật thương mại có trách nhiệm theo dõi những biện pháp và quy định của các nước mà có thể ảnh hưởng đến các nhà xuất khẩu Hoa Kỳ hoặc làm giảm các quyền lợi của Hoa Kỳ trong các hiệp định thương mại. Tuy nhiên, việc áp dụng các đạo luật này đối với các nước thành viên WTO phải phù hợp với các quy định về giải quyết tranh chấp của WTO trong các lĩnh vực được điều chỉnh bởi các quy định đa phương.
Một số chương trình hỗ trợ xuất khẩu vẫn đang được thực hiện. Chính phủ Hoa Kỳ cung cấp bảo hiểm và hỗ trợ tài chính xuất khẩu qua một cơ quan tín dụng xuất khẩu chính thức của mình (là Ngân hàng Xuất nhập khẩu). Một chương trình hoàn thuế cũng đang được triển khai thực hiện. Hoa Kỳ đã thông qua việc bãi bỏ các quy định về thu nhập ngoài lãnh thổ trong Luật thuế Hoa Kỳ vốn được coi là không phù hợp với các quy định của WTO.
Các biện pháp hạn chế và kiểm soát xuất khẩu vẫn được duy trì vì lý do an ninh hoặc chính sách đối ngoại hoặc nhằm bảo đảm cung ứng đủ cho nhu cầu trong nước. Những biện pháp kiểm soát xuất khẩu có thể xuất phát từ các quyết định của chính sách trong nước hoặc việc Hoa Kỳ tham gia vào các cơ chế kiểm soát xuất khẩu không ràng buộc cũng như trong những trường hợp có sự cấm vận của Liên hợp quốc. Trong quá trình được rà soát, mức độ kiểm soát đối với xuất khẩu thương mại sang I-rắc đã được giảm bớt, yêu cầu cấp phép xuất khẩu cho những mặt hàng xuất sang Bulgary, Estonia, Latvia, Lithuania, Rumania, Slovakia và Slovenia đã được chấm dứt và các biện pháp kiểm soát hàng xuất khẩu sang Cuba và Syria đã được thắt chặt.
5) Các biện pháp khác ảnh hưởng đến thương mại
Do Hoa Kỳ là một trong những nhà sản xuất, xuất khẩu và nhập khẩu lớn nhất thế giới nên việc hỗ trợ trong nước mặc dù không dành cho hàng xuất khẩu cũng có thể gây tác động lớn đến thương mại. Việc hỗ trợ cho các nhà sản xuất trong nước được thực hiện dưới các hình thức miễn thuế của liên bang và các bang, cung cấp tài chính và các chương trình tín dụng. Trong lần thông báo gần đây nhất với WTO, trong tháng 11/2003, Hoa Kỳ đã liệt kê một danh sách gồm 45 chương trình trợ cấp của liên bang và 330 chương trình trợ cấp của các bang. Lĩnh vực nông nghiệp và năng lượng được nhận nhiều chương trình trợ cấp của liên bang nhất. Trong quá trình được rà soát, Luật Tạo việc làm của Hoa Kỳ năm 2004 đã quy định việc khấu trừ thuế bao gồm miễn thuế một lần cho các doanh nghiệp Hoa Kỳ chuyển lợi nhuận từ nước ngoài về. Hỗ trợ kinh doanh cũng được thực hiện thông qua Chương trình hỗ trợ các doanh nghiệp trong hoạt động thương mại, chương trình này là một phần của một chương trình có quy mô lớn hơn chuyên hỗ trợ cho các doanh nghiệp, công nhân và nông dân, những đối tượng phải chịu những tác động bất lợi do sự cạnh tranh từ hàng nhập khẩu mang lại.
Trong nông nghiệp, hỗ trợ của Chính phủ được thực hiện trong khuôn khổ của OECD. Những khoản chi trả của Chính phủ cho các nhà sản xuất nông nghiệp được trích từ lợi nhuận thuần của nông nghiệp với tỷ lệ từ 48% trong năm 2000 xuống còn 16% trong năm 2004. Lượng hỗ trợ của Chính phủ tăng lên khi giá cả giảm, và một số hoạt động hỗ trợ này có thể tác động đến thương mại quốc tế khi những sản phẩm đầu ra được hỗ trợ trong việc tiếp cận các thị trường. Một số sản phẩm nông nghiệp nhập khẩu cụ thể phải đáp ứng yêu cầu về chất lượng và các yêu cầu khác so với những yêu cầu dành cho các sản phẩm trong nước.
Tháng 7/2005, Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ cho biết đã trình lên Quốc hội đề xuất thay đổi một số quy định về luật để phù hợp với các quyết định của Ban hội thẩm và Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO liên quan đến một số biện pháp hỗ trợ nông nghiệp của Hoa Kỳ đối với sản phẩm bông nội địa. Bộ Nông nghiệp cũng thông báo rằng, kể từ năm 2005, Bộ sẽ sử dụng một “hệ thống lệ phí dựa trên rủi ro” trong các chương trình bảo lãnh tín dụng xuất khẩu. Đầu tháng 2/2006, Quốc hội đã thông qua việc xoá bỏ những trợ cấp xuất khẩu giai đoạn 2 đối với sản phẩm bông nội địa và việc xoá bỏ này sẽ có hiệu lực từ 1/8/2006.
Chính sách của Hoa Kỳ liên quan đến tiếp cận thị trường cho mua sắm Chính phủ được dành trên cơ sở đối xử quốc gia có đi có lại. Hoa Kỳ đã tham gia vào Hiệp định nhiều bên của WTO về mua sắm Chính phủ (GPA), trong đó quy định một phần đáng kể về mua sắm ở cấp liên bang. Hoa Kỳ vẫn duy trì một số những yêu cầu về mua bán trong nước cho việc mua sắm chính phủ vốn không được quy định trong GPA, NAFTA, Hiệp định nhiều bên của WTO về máy bay dân dụng và các FTAs có liên quan đến mua sắm chính phủ.
Hoa Kỳ là một nhà sản xuất hàng hoá và dịch vụ lớn tiêu biểu cho trình độ kỹ thuật và những tiến bộ khác về tri thức. Nước này đã cam kết thực hiện một chính sách thúc đẩy bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và tăng cường sự bảo hộ này qua các cơ chế khác nhau bao gồm các FTAs, các hiệp định về sở hữu trí tuệ và các bản ghi nhớ thoả thuận sơ bộ. Đã có nhiều sự thay đổi về luật lệ trong thời kỳ được rà soát, đặc biệt là trong những lĩnh vực liên quan đến bằng sáng chế, thương hiệu, bản quyền và thực thi. Văn phòng Sáng chế Hoa Kỳ đang tiến hành thực hiện một chương trình nhằm mở rộng việc rà soát về chất lượng của những ứng dụng sáng chế. Ngoài ra, Hoa Kỳ đã thực hiện phán quyết của Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO liên quan đến mục 211 của Đạo luật Omnibus năm 1998.
Hoa Kỳ hiện vẫn duy trì cơ chế đầu tư nước ngoài tự do, nhìn chung cho phép mở cửa tiếp cận thị trường và dành đối xử quốc gia với một số hạn chế cho những ngành cụ thể như năng lượng, khai thác mỏ và đánh bắt cá cũng như các ngành dịch vụ hàng không, hàng hải và tài chính. Một số ít các hạn chế đối với đối xử quốc gia được áp dụng trong một số lĩnh vực như các chương trình hỗ trợ chính thức. Cũng như vậy đối với một số lượng hạn chế các trường hợp, đầu tư trực tiếp nước ngoài phải thực hiện các yêu cầu về báo cáo hoặc rà soát vì lý do an ninh.
6) Những điều kiện tiếp cận trong lĩnh vực dịch vụ
Luật pháp của Hoa Kỳ về các dịch vụ tài chính chỉ có những thay đổi tương đối nhỏ kể từ lần rà soát trước đây. Trong số những thay đổi đó, một hệ thống sắp xếp mới đã bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/1/2005 nhằm nâng cao việc quản lý các tổ hợp độc quyền tài chính. Nhìn chung, Hoa Kỳ dành tiếp cận thị trường và đối xử quốc gia cho các ngân hàng nước ngoài.
Thị trường viễn thông của Hoa Kỳ được mở cửa cho các doanh nghiệp nước ngoài tham gia và có tính cạnh tranh cao. Tháng 12/2004, Uỷ ban Viễn thông Liên bang đã thông qua những quy định mới về việc xác định lại những doanh nghiệp hiện thời nào phải có những biện pháp để hạ tầng cơ sở của mình phù hợp với các nhà cung cấp viễn thông khác.
Ngành vận tải hàng hải không có bất kỳ một sự thay đổi đáng kể nào về chính sách hay quy định pháp luật kể từ năm 2004. Đạo luật Jones quy định rằng chỉ những tàu thuyền được đăng ký và đóng tại Hoa Kỳ và được sở hữu bởi một doanh nghiệp Hoa Kỳ, đồng thời có đến 75% số công nhân làm việc trong doanh nghiệp đó là công dân Hoa Kỳ mới được kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hoá giữa hai địa điểm của Hoa Kỳ. Dịch vụ chuyên chở hành khách trong nước cũng phải chịu những quy định tương tự. Thị trường vận tải hàng hải quốc tế của Hoa Kỳ nhìn chung được mở cửa cho cạnh tranh nước ngoài mặc dù vẫn có một số ưu đãi vận tải hàng hoá; và đa số dịch vụ vận chuyển hàng hải quốc tế được thực hiện bởi các tàu thuyền nước ngoài.
Lĩnh vực vận chuyển bằng đường hàng không cũng không có sự thay đổi đáng kể nào về quy định pháp luật. Những hạn chế về tiếp cận thị trường vẫn được duy trì dưới hình thức yêu cầu về sở hữu và kiểm soát của Hoa Kỳ. Chỉ có các hãng hàng không trong nước mới được quyền cung cấp các dịch vụ hàng không nội địa. Ngoài ra, Đạo luật Hàng không Hoa Kỳ cũng quy định việc chuyên chở do Chính phủ chi trả phải được thực hiện trên các chuyến bay có cờ Hoa Kỳ. Ngoài ra, những vấn đề tài chính tiếp tục ảnh hưởng đến hoạt động của một số hãng hàng không Hoa Kỳ.
|