TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ
VỀ TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ
Chỉ đạo biên soạn:
Lương Văn Tự
Tổng Thư kí UBQG-HTKTQT, Thứ trưởng Thương mại


Biên soạn và tổ chức bản thảo:
Trần Trung Thực
Tô Cẩn
Đỗ Cẩm Thơ
Nguyễn Thuý Hạnh

Dịch và Hiệu đính
Các Bộ Ngành thành viên UBQG-HTKTQT
   
 
  Lời nói đầu
PHẦN I
CHƯƠNG 1
CHƯƠNG 2
CHƯƠNG 3
CHƯƠNG 4
CHƯƠNG 5
CHƯƠNG 6
CHƯƠNG 7
PHẦN II
CHƯƠNG 1
CHƯƠNG 2
CHƯƠNG 3
CHƯƠNG 4
CHƯƠNG 5
CHƯƠNG 6
CHƯƠNG 7
PHẦN III
CHƯƠNG 1
CHƯƠNG 2
CHƯƠNG 3
CHƯƠNG 4
CHƯƠNG 5
CHƯƠNG 6
CHƯƠNG 7

Tải xuống toàn bộ nội dung
Tải xuống toàn bộ nội dung

 

 


  LỜI GIỚI THIỆU

LỜI GIỚI THIỆU

Nhằm tăng cường sự hiểu biết trong việc thực thi các cam kết theo Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ của WTO (GATS) cũng như giới thiệu một số vấn đề mà các nước có thể sẽ phải đối mặt khi tự do hóa hơn nữa thương mại dịch vụ, Ban thư ký WTO đã xuất bản cuốn sách “Tổng quan về các vấn đề tự do hóa thương mại dịch vụ” thuộc chuyên đề “Hướng dẫn về Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ”.

Để cung cấp các kiến thức cần thiết cho việc xây dựng phương án đàm phán và thực hiện việc t do hóa thương mại dịch vụ phù hợp với yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nhưng vẫn đảm bảo được quyền lợi quốc gia của Việt Nam, Ủy ban quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế phối hợp với Tổ chức ADETEF và Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản cuốn sách tham khảo “Tổng quan về các vấn đề tự do hóa thương mại dịch vụ - Tập 1”.

Cuốn sách này do Văn phòng Ủy ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế Quốc tế biên tập và tổ chức dịch từ nguyên bản tiếng Anh do Ban Thư ký WTO xuất bản năm 2001, bao gồm phần giới thiệu về tác động kinh tế của việc tự do hóa thương mại dịch vụ và tổng quan về các lĩnh vực dịch vụ: kế tóan, máy tính, tài chính, viễn thông, pháp lý và phân phối. 

Do nội dung phức tạp, nhiều vấn đề còn chưa được áp dụng thực tế ở Việt Nam nên việc hiểu và dịch cuốn sách này có thể còn có những sai sót. Ủy ban quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế rất hoan nghênh những ý kiến đóng góp cho việc hòan thiện bản dịch cuốn sách này cũng như tập 2 sẽ được xuất bản trong thời gian tới.

Ủy ban quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế xin chân thành cảm ơn Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam đã hỗ trợ việc xuất bản cuốn sách này.

 

PHÓ CHỦ TỊCH ỦY BAN QUỐC GIA VỀ HỢP TÁC KINH TẾ QUỐC TẾ
BỘ TRƯỞNG THƯƠNG MẠI

Trương Đình Tuyển


LỜI NÓI ĐẦU

Vào mùa hè năm 1998, Hội đồng Thương mại Dịch vụ của WTO triển khai công tác chuẩn bị cho vòng đàm phán mới bắt đầu vào 1/1/2000. Theo yêu cầu của Hội đồng, một nội dung chính của công tác này là việc Ban Thư ký WTO xuất bản một loạt các nghiên cứu tổng quan về các lĩnh vực dịch vụ quan trọng và các nghiên cứu đó được in trong tập sách này với những điểm chỉnh sửa nhỏ. Các nghiên cứu này dự định sẽ đóng góp vào việc đánh giá sự phát triển gần đây của thương mại dịch vụ và cả chương trình trao đổi thông tin về  cơ chế quản lý của các nước thành viên WTO và các nền kinh tế dịch vụ mà Hội nghị Bộ trưởng tại Singapore đã uỷ quyền. Nhìn chung, các nghiên cứu này được Chính phủ các nước thành viên hoan nghênh và được đưa vào đây với hy vọng sẽ tăng cường sự hiểu biết trong lĩnh vực công nghiệp và nhiều lĩnh vực khác trong quá trình thực hiện Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ vì Hiệp định này được áp dụng cho những ngành cụ thể và liên quan đến nhiều vấn đề mà chính phủ các nước sẽ phải đương đầu khi họ theo đuổi tự do hoá thương mại các ngành đó.

Khi giới thiệu các nghiên cứu trên, cũng cần phải đặc biệt nhấn mạnh đến những hạn chế của chúng. Các nghiên cứu này không nhằm mô tả một cách toàn diện những ngành công nghiệp khổng lồ và phức tạp được đề cập đến. Chắc hẳn điều đó vượt quá nguồn lực và khả năng chuyên môn của Ban Thư ký WTO và trong bất kỳ trường hợp nào thì cũng đã có sẵn những nghiên cứu xuất sắc về tất cả các ngành này rồi. Trọng tâm của chúng tôi là những vấn đề mà các thành viên có thể sẽ muốn tính đến trong việc đưa ra quan điểm đàm phán hoặc mục tiêu cho vòng đàm phán mới và chuẩn bị cho các ngành công nghiệp trong một môi trường thương mại mở hơn nữa. Với cách trình bày đa dạng, các nghiên cứu xem xét tầm quan trọng của lĩnh vực kinh tế, các phương thức chúng được điều tiết và trao đổi, các vấn đề về định nghĩa và phân loại, phương thức của các cam kết theo GATS và các nguồn thông tin sâu hơn. Trong nhiều trường hợp, chúng chỉ ra các lĩnh vực cần nghiên cứu nhiều hơn nữa và có thể xác định những hình thức hạn chế thương mại và phân biệt đối xử phổ biến.

Vì thế các nghiên cứu không phải là một khảo sát toàn diện các yếu tố điều chỉnh sản xuất và thương mại trong các ngành dịch vụ được đề cập. Ví dụ, Chương 12 về dịch vụ môi trường không khai thác mối liên hệ chung giữa thương mại dịch vụ và môi trường cũng như không phân tích những tác động rộng hơn của các luật lệ về môi trường trong lĩnh vực dịch vụ. Người ta có thể chỉ trích Chương 14 về dịch vụ y tế vì nó quá thiên về thương mại và các yếu tố thương mại chứ không phải là các luận giải về chính sách xã hội, nhưng sự nhấn mạnh này nhất thiết tuân theo mục đích chung của tất cả các tài liệu nghiên cứu là đưa ra tổng quan các vấn đề thương mại có xu hướng gia tăng trong vòng đàm phán tới.

Trong việc xem xét phân tích các cam kết mà Chính phủ các nước thành viên chấp nhận trong khuôn khổ của GATS, điều quan trọng phải ghi nhớ là các cam kết của một nước không nhất thiết phải phản ánh các điều kiện trao đổi thương mại thực tế. Không có các cam kết tiếp cận thị trường hay cam kết về đối xử quốc gia trong một lĩnh vực cụ thể không có nghĩa là thương mại bị hạn chế hoặc các nhà cung cấp nước ngoài phải chịu sự phân biệt đối xử nặng nề: trong thực tế tồn tại rất ít hoặc không có hạn chế đáng kể nào đối với thương mại. Lĩnh vực vận tải biển là một trường hợp như vậy. Mặc dù một số nước rất quan trọng không có cam kết trong lĩnh vực này nhưng thương mại quốc tế trong dịch vụ vận tải biển phần lớn không chịu tác động bởi các hạn chế thương mại. Vì vậy có thể đặt ra câu hỏi đâu là ý nghĩa của việc đưa ra các cam kết nếu như chúng không cần thiết cho một chế độ thương mại tự do? Câu trả lời là cam kết theo GATS là một lời hứa có sự ràng buộc về mặt pháp lý trong đó các điều kiện gia nhập nêu trong danh mục cam kết của mỗi quốc gia sẽ không được thay đổi mà không có sự đàm phán lại hoặc bồi thường, và giá trị to lớn của nó đối với các nhà kinh doanh và đầu tư là đem lại sự an toàn và dự đoán được của một môi trường thương mại ổn định. Người ta thường cho rằng Vòng đàm phán Uruguay không đạt được tiến bộ đáng kể trong tự do hoá thương mại - có nghĩa là các cam kết được thiết lập chủ yếu ràng buộc các chế độ thương mại hiện hành, nhưng cho dù phần lớn điều này là đúng thì cần nhớ là ngay cả các cam kết "dừng tại chỗ" vẫn có giá trị thực sự. Tất nhiên, mục tiêu thống nhất trong vòng đàm phán mới về dịch vụ là đạt được tự do hoá thương mại nhiều hơn và có thể hy vọng rằng nhiều cam kết hiện tại của các thành viên sẽ được hoàn thiện: các hạn chế tiếp cận thị trường và đối xử quốc gia sẽ được cắt giảm hoặc loại trừ và trong các lĩnh vực mới sẽ đưa ra nhiều cam kết.

Trong khuôn khổ 20 chương về các lĩnh vực dịch vụ cụ thể, Chương Mở đầu đề cập đến Những tác động kinh tế của Tự do hoá Dịch vụ và hai chương cuối đề cập về Cấu trúc các cam kết theo phương thức 1, 2 và 3 và Hiện diện của tự nhiên nhân (phương thức 4). Vấn đề này được giải thích là GATS xác định Thương mại dịch vụ việc cung cấp dịch vụ theo 4 phương thức: cung cấp qua biên giới từ lãnh thổ này sang lãnh thổ khác; tiêu dùng ở nước ngoài; cung cấp thông qua hiện diện thương mại ở thị trường xuất khẩu; và cung cấp thông qua hiện diện của các thể nhân (không mang tính pháp lý) tại thị trường xuất khẩu. Các thành viên tự phân biệt 4 phương thức khi thiết lập các cam kết, và trong thực tế cơ cấu các cam kết theo các phương thức không giống nhau dẫn tới sự khác biệt khá nhiều trong cả danh mục cam kết quốc gia và những điều khoản chung. Ví dụ, nhìn chung có thể nói các cam kết theo phương thức 2 - tiêu dùng ở nước ngoài tự do hơn cam kết theo phương thức 1 - cung cấp qua biên giới, và các cam kết về hiện diện thương mại (phương thức 3) tự do hơn nhiều phương thức 4.

Trong danh mục cam kết quốc gia của mình, các nước thành viên liệt kê các dịch vụ sẵn sàng cho việc tiếp cận thị trường và các cam kết đối xử quốc gia và miêu tả bất kỳ hạn chế nào về tiếp cận thị trường và đối xử quốc gia mà họ muốn duy trì theo mỗi một trong bốn phương thức. Mặc dầu họ không có nghĩa vụ phải sử dụng một thuật ngữ chung cho các dịch vụ trong danh mục nhưng thực tế hầu hết các thành viên đã sử dụng bảng phân loại mà Ban Thư ký WTO phát triển và nêu trong Văn bản MNT.GNS/W/120, theo đó một số chương trong nghiên cứu này được đề cập đến (xem phụ lục 2). W/120 cơ bản là sự tổng hợp hoặc tóm tắt danh mục các ngành  hoặc các phân ngành dịch vụ trong Bảng phân loại các sản phẩm của Liên hợp quốc (CPC)[1]. Một khi chấp nhận, các danh mục cam kết trở thành một phần của GATS và ràng buộc các thành viên liên quan - những nước có thể không cho dành bất kỳ thành viên nào khác điều kiện tiếp cận kém thuận lợi hơn những điều kiện đã được nêu trong danh mục quốc gia. Không thể thêm vào những hạn chế mới, và mục đích rõ ràng của vòng đàm phán mới là thiết lập tự do hóa thương mại sâu hơn nữa: ở đây không có điều khoản nào cho sự rút lại các cam kết hiện hành trừ khi tuân theo các thủ tục về đàm phán và bồi thường trong Điều XXI. Các cam kết được đưa vào danh mục theo 1 trong 4 phương thức cung cấp được đề cập ở trên; các thành viên phải làm sáng tỏ đâu là những hạn chế, nếu có, áp dụng đối với mỗi một phương thức trong 4 phương thức trên. Ngoài việc lên danh mục các hạn chế theo Điều XVI (Tiếp cận thị trường) và Điều XVII (Đối xử quốc gia), cột thứ tư trong danh mục đưa ra danh mục "Cam kết bổ sung". Điều khoản liên quan, điều XVIII, chỉ ra rằng "Các thành viên có thể đàm phán các cam kết về các biện pháp ảnh hưởng tới thương mại dịch vụ không đưa vào danh mục theo điều khoản XVI hoặc XVII", và các cam kết như vậy sẽ phải ghi rõ trong danh mục. Ví dụ tốt nhất cho cách sử dụng điều khoản này xảy ra tại cuộc đàm phán năm 1997 về Viễn thông Cơ bản, khi khoảng 60 nước chấp nhận một tập hợp những nguyên tắc quản lý nhằm ngăn chặn và kiểm soát các hành vi chống cạnh tranh mà các nhà cung cấp độc quyền và chi phối trên thị trường gây ra như là cam kết bổ sung.

Ngoài các cam kết và hạn chế áp dụng cho những lĩnh vực dịch vụ cụ thể, danh mục cam kết của các quốc gia cũng bao gồm các cam kết "nền chung", có nghĩa là các cam kết được áp dụng cho tất cả các lĩnh vực trong danh mục. Để đơn giản hoá và tránh lặp lại cùng một nội dung ở mỗi ngành, các cam kết nền chung được trình bày trong phần đầu tiên của danh mục. Phần lớn các cam kết theo phương thức 4 - di chuyển của thể nhân - áp dụng cho tất cả các ngành - vì vậy được nêu trong phần này. Một số vấn đề phổ biến như những hạn chế trong việc mua đất đai và bất động sản, hoặc những nhà cung cấp nước ngoài được trợ cấp không hợp lệ cũng được đưa vào phần cam kết nền chung.

Những miễn trừ đối với nguyên tắc tối huệ quốc cũng phải được mỗi nước thành viên liệt kê trong một danh mục kèm theo lịch trình và có tính cách ràng buộc tương tự. Những miễn trừ MFN được liệt kê tại cuối vòng đàm phán Uruguay hoặc trong quá trình gia nhập WTO, về nguyên tắc, vẫn có thể được duy trì trong 10 năm tuỳ thuộc vào việc rà soát và đàm phán, nhưng không được đưa ra một biện pháp mới nào trái với nguyên tắc MFN. Điều quan trọng cần ghi nhớ là các nghĩa vụ MFN áp dụng cho tất cả các lĩnh vực dịch vụ, cho dù chúng có nằm trong các cam kết tiếp cận thị trường hay đối xử quốc gia hay không. Nói cách khác, sẽ là bất hợp pháp nếu một thành viên có hành vi phân biệt đối xử giữa các dịch vụ và các nhà cung cấp dịch vụ của các nước thành viên khác nhau, thậm chí khi dịch vụ đó không nằm trong danh mục cam kết.

Một số chương có tham chiếu đến "Chỉ dẫn về danh mục" được xây dựng trong Vòng đàm phán Uruguay để hỗ trợ các Chính phủ trong việc lên danh mục các cam kết và tăng cường sự nhất quán giữa các danh mục. Các chỉ dẫn không mang tính bắt buộc nhưng được áp dụng ở mức độ rất rộng. Có thể tìm các chỉ dẫn này trong trang web WTO <www.wto.org> phần MTN.GNS/W/164 và 164/Add.1.

Một chỉ dẫn chi tiết hơn để đọc các danh mục có trong phần Mở đầu.

Có một số điểm không nhất quán nào đó giữa các chương trong việc đối xử các cam kết của EC và các thành viên của họ. Trong một số trường hợp, phân tích dựa trên một số danh mục theo đó đưa ra những cam kết về ngành dịch vụ đang được xem xét, và do đó phản ánh thực tế là chỉ có một danh mục duy nhất cho 12 nước thành viên cũ của EC, (chưa có một danh mục chung cho cả 15 thành viên hiện tại của EC, mặc dù các cam kết về dịch vụ viễn thông cơ bản và tài chính trong cuộc đàm phán năm 1997 bao trùm cả 15 nước thành viên). Trong các chương khác, sự phân tích dựa trên một số thành viên WTO đã chấp nhận các cam kết và trong đó 15 nước thành viên EC được tính riêng từng nước một.[2]

Các nghiên cứu dưới đây thực hiện bởi các thành viên thuộc Vụ Thương mại Dịch vụ của Ban Thư ký WTO phụ trách các ngành hoặc các lĩnh vực đang đề cập:

Rudolf Adlung

Dịch vụ quảng cáo

Dịch vụ y tế và xã hội

Những tác động kinh tế của Tự do hoá dịch vụ

 

Rudolf Adlung và Antonia Carzaniga

Cấu trúc của Cam kết theo Phương thức 1, 2, 3

Hiện diện của thể nhân (Phương thức 4)

 

Carlo Gamberale

Dịch vụ pháp lý

Dịch vụ năng lượng

 

Dale Honeck

Dịch vụ kế toán

Dịch vụ nghe nhìn

Dịch vụ du lịch

 

Masamichi Kono

Dịch vụ kiến trúc và kỹ thuật đồng bộ

Dịch vụ xây dựng và Dịch vụ liên quan đến kỹ thuật đồng bộ

Dịch vụ tài chính

 

Pierre Latrille

Dịch vụ vận tải hàng không

Dịch vụ vận tải đường bộ

Dịch vụ vận tải đường sắt

Dịch vụ vận tải đường biển

 

Aaditya Mattoo

Dịch vụ phân phối

Dịch vụ môi trường

 

Jasmin Taco-Vielma

Dịch vụ giáo dục

 

Lee Tuthill

Dịch vụ máy tính và các dịch vụ liên quan

Dịch vụ bưu chính

Dịch vụ viễn thông

 

Nghiên cứu này đã được Katie Water biên tập và chuẩn bị cho xuất bản.


[1] Bảng Phân loại Sản phẩm Trung tâm Tạm thời của Liên Hợp quốc, tập tài liệu thống kê M No.77, 1999

[2] Các chương tính EC riêng lẻ là quảng cáo, kiến trúc, nghe nhìn, xây dựng, năng lượng, y tế. Phương thức 1, 2, 3 và Phương thức 4, bưu chính, viễn thông.

 

2006 made by binhbl@mot.gov.vn