|
LỜI GIỚI THIỆU
LỜI GIỚI THIỆU
Nhằm tăng cường sự hiểu biết trong việc thực thi các cam kết
theo Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ của WTO (GATS) cũng như giới thiệu
một số vấn đề mà các nước có thể sẽ phải đối mặt khi tự do hóa hơn nữa thương
mại dịch vụ, Ban thư ký WTO đã xuất bản cuốn sách “Tổng quan về các vấn đề tự do
hóa thương mại dịch vụ” thuộc chuyên đề “Hướng dẫn về Hiệp định chung về Thương
mại dịch vụ”.
Để cung cấp các kiến thức cần thiết cho việc xây dựng phương
án đàm phán và thực hiện việc tự do hóa thương mại dịch vụ phù hợp với yêu cầu của quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế nhưng vẫn đảm bảo được quyền lợi quốc gia của Việt Nam,
Ủy ban quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế phối hợp với Tổ chức ADETEF và Nhà
xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản cuốn sách tham khảo “Tổng quan về các vấn
đề tự do hóa thương mại dịch vụ - Tập 1”.
Cuốn sách này do Văn phòng Ủy ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế
Quốc tế biên tập và tổ chức dịch từ nguyên bản tiếng Anh do Ban Thư
ký WTO xuất bản năm
2001, bao gồm phần giới thiệu về tác động kinh tế của việc tự do hóa thương mại
dịch vụ và tổng quan về các lĩnh vực dịch vụ: kế tóan, máy tính, tài chính, viễn
thông, pháp lý và phân phối.
Do nội dung phức tạp, nhiều vấn đề còn chưa được áp dụng thực
tế ở Việt Nam
nên việc hiểu và dịch cuốn sách này có thể còn có những sai sót. Ủy ban quốc gia
về Hợp tác kinh tế quốc tế rất hoan nghênh những ý kiến đóng góp cho việc hòan
thiện bản dịch cuốn sách này cũng như tập 2 sẽ được xuất bản trong thời gian
tới.
Ủy ban quốc gia về Hợp
tác kinh tế quốc tế xin chân thành cảm ơn Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam đã hỗ
trợ việc xuất bản cuốn sách này.
PHÓ CHỦ TỊCH
ỦY BAN QUỐC GIA VỀ HỢP TÁC KINH TẾ QUỐC TẾ
BỘ TRƯỞNG THƯƠNG MẠI
Trương Đình Tuyển
LỜI NÓI ĐẦU
Vào mùa hè năm 1998, Hội đồng Thương mại Dịch vụ của WTO
triển khai công tác chuẩn bị cho vòng đàm phán mới bắt đầu vào
1/1/2000. Theo yêu cầu của Hội
đồng, một nội dung chính của công tác này là việc Ban Thư ký WTO xuất bản một
loạt các nghiên cứu tổng quan về các lĩnh vực dịch vụ quan trọng và các nghiên
cứu đó được in trong tập sách này với những điểm chỉnh sửa nhỏ. Các nghiên cứu
này dự định sẽ đóng góp vào việc đánh giá sự phát triển gần đây của thương mại
dịch vụ và cả chương trình trao đổi thông tin về cơ chế quản lý của các nước
thành viên WTO và các nền kinh tế dịch vụ mà Hội nghị Bộ trưởng tại Singapore đã
uỷ quyền. Nhìn chung, các nghiên cứu này được Chính phủ các nước thành viên hoan
nghênh và được đưa vào đây với hy vọng sẽ tăng cường sự hiểu biết trong lĩnh vực
công nghiệp và nhiều lĩnh vực khác trong quá trình thực hiện Hiệp định chung về
Thương mại Dịch vụ vì Hiệp định này được áp dụng cho những ngành cụ thể và liên
quan đến nhiều vấn đề mà chính phủ các nước sẽ phải đương đầu khi họ theo đuổi
tự do hoá thương mại các ngành đó.
Khi giới thiệu các nghiên cứu trên, cũng cần phải đặc biệt
nhấn mạnh đến những hạn chế của chúng. Các nghiên cứu này không nhằm mô tả một
cách toàn diện những ngành công nghiệp khổng lồ và phức tạp được đề cập đến.
Chắc hẳn điều đó vượt quá nguồn lực và khả năng chuyên môn của Ban Thư ký WTO và
trong bất kỳ trường hợp nào thì cũng đã có sẵn những nghiên cứu xuất sắc về tất
cả các ngành này rồi. Trọng tâm của chúng tôi là những vấn đề mà các thành viên
có thể sẽ muốn tính đến trong việc đưa ra quan điểm đàm phán hoặc mục tiêu cho
vòng đàm phán mới và chuẩn bị cho các ngành công nghiệp trong một môi trường
thương mại mở hơn nữa. Với cách trình bày đa dạng, các nghiên cứu xem xét tầm
quan trọng của lĩnh vực kinh tế, các phương thức chúng được điều tiết và trao
đổi, các vấn đề về định nghĩa và phân loại, phương thức của các cam kết theo
GATS và các nguồn thông tin sâu hơn. Trong nhiều trường hợp, chúng chỉ ra các
lĩnh vực cần nghiên cứu nhiều hơn nữa và có thể xác định những hình thức hạn chế
thương mại và phân biệt đối xử phổ biến.
Vì thế các nghiên cứu không phải là một khảo sát toàn diện
các yếu tố điều chỉnh sản xuất và thương mại trong các ngành dịch vụ được đề
cập. Ví dụ, Chương 12 về dịch vụ môi trường không khai thác mối liên hệ chung
giữa thương mại dịch vụ và môi trường cũng như không phân tích những tác động
rộng hơn của các luật lệ về môi trường trong lĩnh vực dịch vụ. Người ta có thể
chỉ trích Chương 14 về dịch vụ y tế vì nó quá thiên về thương mại và các yếu tố
thương mại chứ không phải là các luận giải về chính sách xã hội, nhưng sự nhấn
mạnh này nhất thiết tuân theo mục đích chung của tất cả các tài liệu nghiên cứu
là đưa ra tổng quan các vấn đề thương mại có xu hướng gia tăng trong vòng đàm
phán tới.
Trong việc xem xét phân tích các cam kết mà Chính phủ các
nước thành viên chấp nhận trong khuôn khổ của GATS, điều quan trọng phải ghi nhớ
là các cam kết của một nước không nhất thiết phải phản ánh các điều kiện trao
đổi thương mại thực tế. Không có các cam kết tiếp cận thị trường hay cam kết về
đối xử quốc gia trong một lĩnh vực cụ thể không có nghĩa là thương mại bị hạn
chế hoặc các nhà cung cấp nước ngoài phải chịu sự phân biệt đối xử nặng nề:
trong thực tế tồn tại rất ít hoặc không có hạn chế đáng kể nào đối với thương
mại. Lĩnh vực vận tải biển là một trường hợp như vậy. Mặc dù một số nước rất
quan trọng không có cam kết trong lĩnh vực này nhưng thương mại quốc tế trong
dịch vụ vận tải biển phần lớn không chịu tác động bởi các hạn chế thương mại. Vì
vậy có thể đặt ra câu hỏi đâu là ý nghĩa của việc đưa ra các cam kết nếu như
chúng không cần thiết cho một chế độ thương mại tự do? Câu trả lời là cam kết
theo GATS là một lời hứa có sự ràng buộc về mặt pháp lý trong đó các điều kiện
gia nhập nêu trong danh mục cam kết của mỗi quốc gia sẽ không được thay đổi mà
không có sự đàm phán lại hoặc bồi thường, và giá trị to lớn của nó đối với các
nhà kinh doanh và đầu tư là đem lại sự an toàn và dự đoán được của một môi
trường thương mại ổn định. Người ta thường cho rằng Vòng đàm phán Uruguay không
đạt được tiến bộ đáng kể trong tự do hoá thương mại - có nghĩa là các cam kết
được thiết lập chủ yếu ràng buộc các chế độ thương mại hiện hành, nhưng cho dù
phần lớn điều này là đúng thì cần nhớ là ngay cả các cam kết "dừng tại chỗ" vẫn
có giá trị thực sự. Tất nhiên, mục tiêu thống nhất trong vòng đàm phán mới về
dịch vụ là đạt được tự do hoá thương mại nhiều hơn và có thể hy vọng rằng nhiều
cam kết hiện tại của các thành viên sẽ được hoàn thiện: các hạn chế tiếp cận thị
trường và đối xử quốc gia sẽ được cắt giảm hoặc loại trừ và trong các lĩnh vực
mới sẽ đưa ra nhiều cam kết.
Trong khuôn khổ 20 chương về các lĩnh vực dịch vụ cụ thể,
Chương Mở đầu đề cập đến Những tác động kinh tế của Tự do hoá Dịch vụ và hai
chương cuối đề cập về Cấu trúc các cam kết theo phương thức 1, 2 và 3 và Hiện
diện của tự nhiên nhân (phương thức 4). Vấn đề này được giải thích là GATS xác
định Thương mại dịch vụ việc cung cấp dịch vụ theo 4 phương thức: cung cấp qua
biên giới từ lãnh thổ này sang lãnh thổ khác; tiêu dùng ở nước ngoài; cung cấp
thông qua hiện diện thương mại ở thị trường xuất khẩu; và cung cấp thông qua
hiện diện của các thể nhân (không mang tính pháp lý) tại thị trường xuất khẩu.
Các thành viên tự phân biệt 4 phương thức khi thiết lập các cam kết, và trong
thực tế cơ cấu các cam kết theo các phương thức không giống nhau dẫn tới sự khác
biệt khá nhiều trong cả danh mục cam kết quốc gia và những điều khoản chung. Ví
dụ, nhìn chung có thể nói các cam kết theo phương thức 2 - tiêu dùng ở nước
ngoài tự do hơn cam kết theo phương thức 1 - cung cấp qua biên giới, và các cam
kết về hiện diện thương mại (phương thức 3) tự do hơn nhiều phương thức 4.
Trong danh mục cam kết quốc gia của mình, các nước thành viên
liệt kê các dịch vụ sẵn sàng cho việc tiếp cận thị trường và các cam kết đối xử
quốc gia và miêu tả bất kỳ hạn chế nào về tiếp cận thị trường và đối xử quốc gia
mà họ muốn duy trì theo mỗi một trong bốn phương thức. Mặc dầu họ không có nghĩa
vụ phải sử dụng một thuật ngữ chung cho các dịch vụ trong danh mục nhưng thực tế
hầu hết các thành viên đã sử dụng bảng phân loại mà Ban Thư ký WTO phát triển và
nêu trong Văn bản MNT.GNS/W/120, theo đó một số chương trong nghiên cứu này được
đề cập đến (xem phụ lục 2). W/120 cơ bản là sự tổng hợp hoặc tóm tắt danh mục
các ngành hoặc các phân ngành dịch vụ trong Bảng phân loại các sản phẩm của
Liên hợp quốc (CPC).
Một khi chấp nhận, các danh mục cam kết trở thành một phần của GATS và ràng buộc
các thành viên liên quan - những nước có thể không cho dành bất kỳ thành viên
nào khác điều kiện tiếp cận kém thuận lợi hơn những điều kiện đã được nêu trong
danh mục quốc gia. Không thể thêm vào những hạn chế mới, và mục đích rõ ràng của
vòng đàm phán mới là thiết lập tự do hóa thương mại sâu hơn nữa: ở đây không có
điều khoản nào cho sự rút lại các cam kết hiện hành trừ khi tuân theo các thủ
tục về đàm phán và bồi thường trong Điều XXI. Các cam kết được đưa vào danh mục
theo 1 trong 4 phương thức cung cấp được đề cập ở trên; các thành viên phải làm
sáng tỏ đâu là những hạn chế, nếu có, áp dụng đối với mỗi một phương thức trong
4 phương thức trên. Ngoài việc lên danh mục các hạn chế theo Điều XVI (Tiếp cận
thị trường) và Điều XVII (Đối xử quốc gia), cột thứ tư trong danh mục đưa ra
danh mục "Cam kết bổ sung". Điều khoản liên quan, điều XVIII, chỉ ra rằng
"Các thành viên có thể đàm phán các cam kết về các biện pháp ảnh hưởng tới
thương mại dịch vụ không đưa vào danh mục theo điều khoản XVI hoặc XVII", và các
cam kết như vậy sẽ phải ghi rõ trong danh mục. Ví dụ tốt nhất cho cách sử dụng
điều khoản này xảy ra tại cuộc đàm phán năm 1997 về Viễn thông Cơ bản, khi
khoảng 60 nước chấp nhận một tập hợp những nguyên tắc quản lý nhằm ngăn chặn và
kiểm soát các hành vi chống cạnh tranh mà các nhà cung cấp độc quyền và chi phối
trên thị trường gây ra như là cam kết bổ sung.
Ngoài các cam kết và hạn chế áp dụng cho những lĩnh vực dịch
vụ cụ thể, danh mục cam kết của các quốc gia cũng bao gồm các cam kết "nền
chung", có nghĩa là các cam kết được áp dụng cho tất cả các lĩnh vực trong danh
mục. Để đơn giản hoá và tránh lặp lại cùng một nội dung ở mỗi ngành, các cam kết
nền chung được trình bày trong phần đầu tiên của danh mục. Phần lớn các cam kết
theo phương thức 4 - di chuyển của thể nhân - áp dụng cho tất cả các ngành - vì
vậy được nêu trong phần này. Một số vấn đề phổ biến như những hạn chế trong việc
mua đất đai và bất động sản, hoặc những nhà cung cấp nước ngoài được trợ cấp
không hợp lệ cũng được đưa vào phần cam kết nền chung.
Những miễn trừ đối với nguyên tắc tối huệ quốc cũng phải được
mỗi nước thành viên liệt kê trong một danh mục kèm theo lịch trình và có tính
cách ràng buộc tương tự. Những miễn trừ MFN được liệt kê tại cuối vòng đàm phán
Uruguay hoặc trong quá trình gia nhập WTO, về nguyên tắc, vẫn có thể được duy
trì trong 10 năm tuỳ thuộc vào việc rà soát và đàm phán, nhưng không được đưa ra
một biện pháp mới nào trái với nguyên tắc MFN. Điều quan trọng cần ghi nhớ là
các nghĩa vụ MFN áp dụng cho tất cả các lĩnh vực dịch vụ, cho dù chúng có nằm
trong các cam kết tiếp cận thị trường hay đối xử quốc gia hay không. Nói cách
khác, sẽ là bất hợp pháp nếu một thành viên có hành vi phân biệt đối xử giữa các
dịch vụ và các nhà cung cấp dịch vụ của các nước thành viên khác nhau, thậm chí
khi dịch vụ đó không nằm trong danh mục cam kết.
Một số chương có tham chiếu đến "Chỉ dẫn về danh mục" được
xây dựng trong Vòng đàm phán Uruguay để hỗ trợ các Chính phủ trong việc lên danh
mục các cam kết và tăng cường sự nhất quán giữa các danh mục. Các chỉ dẫn không
mang tính bắt buộc nhưng được áp dụng ở mức độ rất rộng. Có thể tìm các chỉ dẫn
này trong trang web WTO <www.wto.org> phần MTN.GNS/W/164 và 164/Add.1.
Một chỉ dẫn chi tiết hơn để đọc các danh mục có trong phần Mở
đầu.
Có một số điểm không nhất quán nào đó giữa các chương trong
việc đối xử các cam kết của EC và các thành viên của họ. Trong một số trường
hợp, phân tích dựa trên một số danh mục theo đó đưa ra những cam kết về ngành
dịch vụ đang được xem xét, và do đó phản ánh thực tế là chỉ có một danh mục duy
nhất cho 12 nước thành viên cũ của EC, (chưa có một danh mục chung cho cả 15
thành viên hiện tại của EC, mặc dù các cam kết về dịch vụ viễn thông cơ bản và
tài chính trong cuộc đàm phán năm 1997 bao trùm cả 15 nước thành viên). Trong
các chương khác, sự phân tích dựa trên một số thành viên WTO đã chấp nhận các
cam kết và trong đó 15 nước thành viên EC được tính riêng từng nước một.
Các nghiên cứu dưới đây thực hiện bởi các thành viên thuộc Vụ
Thương mại Dịch vụ của Ban Thư ký WTO phụ trách các ngành hoặc các lĩnh vực đang
đề cập:
|
Rudolf Adlung |
Dịch vụ quảng cáo
Dịch vụ y tế và xã hội
Những tác động kinh tế của Tự do hoá dịch vụ
|
|
Rudolf
Adlung và Antonia Carzaniga |
Cấu trúc
của Cam kết theo Phương thức 1, 2, 3
Hiện diện
của thể nhân (Phương thức 4)
|
|
Carlo Gamberale |
Dịch vụ pháp lý
Dịch vụ năng lượng
|
|
Dale Honeck |
Dịch vụ kế toán
Dịch vụ nghe nhìn
Dịch vụ du lịch
|
|
Masamichi Kono |
Dịch vụ kiến trúc và kỹ thuật đồng bộ
Dịch vụ xây dựng và Dịch vụ liên quan đến kỹ thuật đồng bộ
Dịch vụ tài chính
|
|
Pierre Latrille |
Dịch vụ vận tải hàng không
Dịch vụ vận tải đường bộ
Dịch vụ vận tải đường sắt
Dịch vụ vận tải đường biển
|
|
Aaditya Mattoo |
Dịch vụ phân phối
Dịch vụ môi trường
|
|
Jasmin Taco-Vielma |
Dịch vụ giáo dục
|
|
Lee Tuthill |
Dịch vụ máy tính và các dịch vụ liên quan
Dịch vụ bưu chính
Dịch vụ viễn thông
|
Nghiên cứu này đã được Katie Water biên tập và chuẩn bị cho
xuất bản.
|